Tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài cũng vậy, tác giả dẫn dắt người đọc đi qua nhiều địa điểm, nhiều môi trường khác nhau: phiên chợ ngày Tết, mậu dịch quốc doanh, trạm xá, nương rẫy Những bức tranh thiên nhiên vừa dữ dội vừa thơ mộng, những bức tranh sinh hoạt Những giải thưởng của nhà văn Tô Hoài. Trong sự sáng tác của mình,Tô Hoài đã nhận được rất nhiều giải thưởng danh giá được nhà nước trao tặng, cụ thể là: Giải nhất Tiểu thuyết của Hội Văn nghệ Việt Nam 1956 (Truyện Tây bắc) Giải A Giải thưởng Hội Văn nghệ Với tập Truyện Tây Bắc, Tô Hoài đã khắc họa một cách chân thật, sinh động những nỗi đau thương, khổ nhục của người dân miền núi dưới ách áp bức nặng nề của thực dân phong kiến.. Đồng thời từ đó, ông ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của người dân tộc thiểu số miền núi, cũng như lý giải Tiểu sử nhà văn Tô Hoài. Nhà văn Tô Hoài là một trong những nhà văn lớn của văn học Việt Nam. Ông tên thật là Nguyễn Sen, ông còn các bút danh khác như: Mai Trang,Mắt Biển, Thái Yên, Vũ Đột Kích, Hồng Hoa. Bút danh Tô Hoài của ông gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Tô Hoài (tên khai sinh: Nguyễn Sen; 27 tháng 9 năm 1920 - 6 tháng 7 năm 2014) là một nhà văn Việt Nam. Một số tác phẩm đề tài thiếu nhi của ông được dịch ra ngoại ngữ. Ông được nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật Đợt 1 (1996) cho các tác phẩm: Xóm giếng, Nhà nghèo, O Vay Tiền Trả Góp 24 Tháng. VOV5 - Tô Hoài là một trong những tác gia lớn nhất của thế kỉ 20. Ông thuộc thế hệ vàng thế hệ sinh năm 20, từ năm 1920 ngược về trước. Đó là thế hệ vàng của văn chương hiện đại, làm nên mùa gặt ngoạn mục nhất của văn học thế kỉ 20 - làm nên mùa màng 1930-1945, cùng với Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Xuân Diệu, Huy Cận. Ông cũng là người hiếm hoi nhất còn lại của thế hệ ấy, cùng với nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh. Nhà văn Tô Hoài Ảnh An Thành Đạt Nghe nội dung chi tiết tại đây Nhà văn Tô Hoài, tác giả của cuốn sách “Dế mèn phiêu lưu ký” khiến bao thế hệ bạn đọc Việt Nam say mê, đến với văn chương từ thuở thanh niên. Sự nghiệp văn chương của Tô Hoài bắt đầu từ những tác phẩm in trên Hà Nội tân văn và Tiểu thuyết thứ bảy vào cuối những năm 30 của thế kỷ 20. Năm 1938, Tô Hoài tham gia Hội Ái hữu công nhân rồi tham gia phong trào Thanh niên phản đế. Năm 1943, ông gia nhập tổ Văn hóa cứu quốc đầu tiên ở Hà Nội. Đây chính là thời gian ông xuất bản cuốn truyện dài nổi tiếng “Dế mèn phiêu lưu ký”.Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nhà văn Tô Hoài làm báo Cứu quốc, Chủ nhiệm tờ Cứu quốc Việt Bắc, chủ bút Tạp chí Cứu quốc. Năm 1957, được bầu làm làm Tổng Thứ ký Hội Nhà văn Việt Nam. Từ 1958 đến năm 1980, tiếp tục tham gia Ban Chấp hành, Phó Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. Từ 1966 – 1996, ông là Chủ tịch Hội văn nghệ Hà Nội. Nhà văn Hoàng Quốc Hải khâm phục phong cách viết văn của Tô Hoài “Trong những chuyến đi thực tế vùng Tây Bắc, nhà văn Tô Hoài luôn có tác phong vừa nghe người ta nói, vừa xem họ làm, vừa sinh hoạt với họ, đồng thời còn ghi chép lại. Có những đoạn ông ghi lại tiếng chim gáy trong rừng sâu như thế nào, tiếng chim gáy ở đồng bằng như thế nào. Hay như tiếng chim nuôi trong lồng, nhốt trong thành phố thế nào. Những đoạn ghi chép ấy ông đều đọc cho chúng tôi nghe. Mỗi cái đều có sự tinh tế khác nhau. Từ đó mới thấy nhà văn Tô Hoài làm việc rất tỉ mỉ và những điều ông đưa ra làm cho chúng ta tin được”. Bên cạnh những đề tài viết về miền núi Tây Bắc, Việt Bắc cho đến Hà Nội, nói đến Tô Hoài, người đọc nhớ ngay đến Tô Hoài của những sáng tác về Hà Nội, Tô Hoài với miền núi Tây Bắc, Việt Bắc, Tô Hoài của hồi ký tự truyện..., và những sáng tác cho thiếu nhi. Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của nhà văn Tô Hoài là “Dế Mèn phiêu lưu ký”, tác phẩm đã gắn liền với bao thế hệ thiếu nhi Việt Nam. Bà Lê Hương, người yêu thích tác phẩm của nhà văn Tô Hoài, cho biết “Tác phẩm Dế mèn phiêu lưu ký dẫn dắt tuổi thơ của tôi đi xa lắm. Ngày đó đâu có nhiều hình ảnh trên ti vi nhưng qua tác phẩm thì chúng tôi quan sát đất nước Việt Nam tươi đẹp như thế nào, rộng lớn ra làm sao, thân thương ra sao”. Không chỉ thu hút bạn đọc trong nước, cuốn truyện hấp dẫn này còn được dịch ra nhiều thứ tiếng và được bạn bè quốc tế cả trẻ em và người lớn đón nhận nồng nhiệt như những truyện cổ tích kinh điển của nhà văn hào Andecxen, của anh em nhà Grim…Năm 2006, Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam đã trao tặng nhà văn Tô Hoài bằng chứng nhận “Nhà văn Tô Hoài với tác phẩm Dế mèn phiêu lưu ký được dịch nhiều thứ tiếng nhất”.Tính đến nay, “Dế mèn phiêu lưu ký” đã được dịch ra nhiều thứ tiếng Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Lan, Nam Tư, Rumani, Cuba, Hàn Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan… Một tác phẩm nổi tiếng khác của nhà văn Tô Hoài là “Vợ chồng A Phủ” - truyện ngắn xuất sắc của Tô Hoài viết về đề tài miền núi Tây Bắc được in trong tập “Truyện Tây Bắc”1953.Tác phẩm đã thể hiện một cách xúc động cuộc sống tủi nhục của đồng bào miền núi Tây Bắc dưới ách phong kiến và thực dân, được giải nhất về truyện, kí đồng hạng với Đất Nước đứng lên của Nguyên Ngọc giải thưởng của hội Văn Nghệ Việt Nam 1954-1955. Giáo sư văn học Phong Lê đánh giá “Nói về Vợ chồng A Phủ là nói về giá trị khởi đầu của nó trong văn học kháng chiến, nằm trong bộ ba truyện để thành “Truyện Tây Bắc”. Tô Hoài trong những năm đầu thâm nhập vào kháng chiến, viết được tác phẩm đầu tiên của văn học kháng chiến và xây dựng được mẫu hình của một tầng lớp người.”Truyện Tây Bắc” cùng với “Đất nước đứng lên” là những tác phẩm đặc sắc của chặng đường văn học kháng chiến 1945-1954”. Cùng với “Dế mèn phiêu lưu ký”, “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài cũng là tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong chương trình sách giáo khoa phổ thông và được chuyển thể thành kịch bản điện ảnh. Tính đến nay, sau hơn 60 năm lao động nghệ thuật, Tô Hoài đã có hơn 100 tác phẩm thuộc nhiều thể loại truyện ngắn, truyện dài kỳ, tiểu thuyết, hồi ký, kịch bản phim, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác. Tô Hoài được đánh giá là cây đại thụ trong khu rừng văn học hiện đại Việt Nam. Ở mọi thể loại sáng tác, Tô Hoài cũng tạo lập được một giá trị riêng, một gương mặt riêng không thể nhòe lẫn và để lại nhiều dấu ấn với những tác phẩm có giá trị. Nhà văn Tô Hoài được nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật đợt 1 - 1996 cho các tác phẩm Xóm Giếng, Nhà nghèo, O chuột, Dế Mèn phiêu lưu ký, Núi Cứu quốc, Truyện Tây Bắc, Mười năm, Xuống làng, Vỡ tỉnh, Tào lường, Họ Giàng ở Phìn Sa, Miền Tây, Vợ chồng A Phủ, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ. Năm 2010, ông còn được trao Giải thưởng Lớn - Giải thưởng Bùi Xuân Phái - Vì tình yêu Hà Nội. Nhà văn Tô Hoài, cây đại thụ cuối cùng của thế hệ nhà văn thành danh trước Cách Mạng tháng 8 của Việt Nam, vừa từ trần ngày 6/7 tại Hà Nội, thành phố ông sinh ra, lớn lên và gắn bó hầu như suốt cuộc đời mình. Hơn 70 năm cầm bút, nhà văn Tô Hoài đã sáng tác hơn 200 đầu sách đủ thể loại từ tiểu thuyết, truyện vừa, bút ký, ký sự, truyện ngắn, hồi ký, tự truyện đến tiểu luận phê bình, truyện viết cho thiếu nhi. Trong mỗi tác phẩm, ông đều để lại dấu ấn riêng./. Vân Thanh – người biên soạn hơn 200 tác giả văn học thiếu nhi Việt Nam Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa năm 2006 – 901 trang “Nắm được yêu cầu giáo dục và chọn được hình thức miêu tả thích hợp với đặc điểm tâm sinh lý của mỗi lứa tuổi, đó là ưu điểm lớn của Tô Hoài”. Chuyện từ mùa thu Tôi trở lại con phố cụt Đoàn Nhữ Hài yên tĩnh – một nhánh của phố Trần Quốc Toản – sau cơn mưa rất lớn ở Hà Nội, đường đi lối lại như được rửa sạch băng… Câu chuyện trao đổi giữa tôi và Tô Hoài 60 năm trước, bước chân vào Đảng, Tô Hoài suy nghĩ gì? Vẫn phong thái của một người bình dị, chân thành, Tô Hoài đủng đỉnh vào chuyện giản dị, mộc mạc như con người vốn có – Lúc đó tôi đang làm báo Cứu Quốc cùng với Nguyên Hồng, Như Phong, do anh Xuân Thuỷ phụ trách. Ngay từ ngày còn hoạt động bí mật, tôi đã ao ước được vào Đảng. Đó là mơ ước của cả lứa tuổi thanh niên bấy giờ một khi đã được giác ngộ lý tưởng và lẽ sống cao đẹp. Cho nên, giờ phút được đứng vào hàng ngũ Đảng, tôi cảm động vô cùng. Đêm hôm đó, ở ngay trụ sở báo Hà Nội mới bây giờ, trước sự chứng kiến của đồng chí Thường vụ Thành uỷ Hà Nội, anh Xuân Thủy, anh Văn Tân là người giới thiệu tôi vào Đảng, tôi đã giơ tay chào cờ Đảng với lời thề… cho đến bây giờ tôi vẫn chưa quên… ở báo Cứu Quốc, tôi chuyên làm phóng viên đi Chiến dịch Biên giới năm 1950, đi Chiến dịch Tây Bắc năm 1952. Những năm ở báo Cứu Quốc do yêu cầu nhiệm vụ, tôi được phân công làm chủ nhiệm báo Cứu Quốc Việt Bắc. Anh Nam Cao nhận trách nhiệm thư ký toà soạn. Lúc ấy, Tây còn ở Bắc Cạn nên tôi và anh Nam Cao bám trụ trong dân làm tờ báo chỉ có 2 trang thì một nửa dành cho các bài tiếng Tày và báo phát hành trong ba tỉnh Cao – Bắc – Lạng. Vì vậy, hồi ấy, tôi có tên Nông Văn Tư, còn anh Nam Cao có tên Ma Văn Hữu… Sau này, báo Cứu Quốc Việt Bắc lại sáp nhập với báo Cứu Quốc Trung ương, tôi mới sang công tác ở Hội Văn nghệ… Không phải tình bạn giữa Nam Cao và Tô Hoài khởi đầu từ đấy. Tình bạn ấy bắt nguồn từ những ngày hoạt động bí mật. Họ thường gặp nhau ở Nghĩa Đô, chia sẻ buồn vui, đói no, bệnh tật và cả chạy giặc lùng. Tuy Nam Cao đã mất, nhưng sợi dây tình bạn của Tô Hoài càng bền chặt và thuỷ chung cho đến hôm nay… Đến với Tô Hoài – cây đại thụ của làng văn Việt Nam – tôi còn được lắng nghe tâm sự nghề nghiệp thật bổ ích. Tô Hoài cho là làm báo và viết văn không có gì là mâu thuẫn cả. Làm báo cần thiết đối với người viết văn. Có điều, viết văn khác với viết một bài báo. Chẳng hạn, khi đi Lạng Sơn 4, 5 tháng viết tiểu thuyết “Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ”, Tô Hoài đã nghiên cứu cả Lạng Sơn hiện đại. Vì vậy, ngoài viết tiểu thuyết, Tô Hoài còn viết được 8 – 9 bài cho báo Nhân Dân… Nhận xét “ Tô Hoài, sáu mươi năm viết…” Phong Lê viết “Ngòi bút Tô Hoài thật đã xiết bao linh hoạt. Quan sát kỹ lưỡng và tinh tế. Ngôn ngữ tự nhiên và giàu có. Thiên nhiên thoáng đãng mà thơ mộng… Nhân vật có dáng vẻ riêng và đều sắc nét” Còn Accadi Xtorugaxki, báo Văn học Liên Xô 1981, viết “Tất cả những gì Tô Hoài mô tả đều rất là vật chất, có thể nhìn thấy, có thể sờ mó được…” Võ Như dịch. Vì sao Tô Hoài được cả bạn văn trong nước và nước ngoài nhận xét thống nhất như vậy? Theo tôi, qua “Một số kinh nghiệm viết văn miêu tả”, Tô Hoài đã nói rõ và còn đưa ra những dẫn chứng cụ thể… … Đến những tác phẩm viết cho thiếu nhi… Hôm ấy, tôi sang nhà cô Chi ở cạnh nhà mẹ tôi chơi. Thấy tôi cầm quyển “Dế Mèn, chim Gáy, Bồ Nông” – truyện loài vật – của Tô Hoài – in lần thứ 21 – tác phẩm chọn lọc dành cho thiếu nhi – thuộc tủ sách vàng do Nhà xuất bản Kim Đồng ấn hành cuối 2005, bé Thư – con cô Chi khoe ngay – Cháu có “ Dế Mèn phiêu lưu kí”, bố mua cho đấy! Cháu Thư nhanh nhảu mở tủ lấy ra cuốn “Dế Mèn phiêu lưu ký” đưa cho tôi xem. Cuốn sách giống hệt cuốn sách của cháu Vũ Thùy Linh ở 13B/309 Đà Nẵng, Hải Phòng trong gia đình tôi. Sách do Hội Nhà văn ấn hành năm 2005, minh họa của Ngô Mạnh Lân, tái bản có sửa chữa. Cháu Thư mở sách chỉ vào lời đầu truyện và thủ thỉ với tôi – Đọc truyện này cháu thích Dế Mèn lắm bà ạ! Nhà văn Tô Hoài “có vẻ” yêu trẻ em, nên ông viết thế này “ Ngày trước, Dế Mèn có kể chuyện đời mình cho tôi chép lại”, “Do vậy, mỗi lần đem in Dế Mèn phiêu lưu ký, tôi lại tìm thêm được cái thiếu sót của người chép chuyện và thường lần nào cũng có đôi chỗ tôi sửa chữa hoặc thêm bớt…” Chuyện bé Thư nhắc tôi nhớ lại bìa sách Dế Mèn phiêu lưu ký cũng do Nhà Xuất bản Kim Đồng in 1997, Tô Hoài viết “ Biết ước mơ và hành động, Dế Mèn của tôi chắc chắn là bạn chung thuỷ với thế hệ tuổi thơ của bạn”. Tô Hoài là người cẩn trọng trong nghề nghiệp vì đã khẳng định “Chức năng giáo dục ở mỗi sáng tác cho các em là quan trọng bậc nhất, không thể bàn cãi” Đọc bài mở truyện “ Dế Mèn, chim Gáy, Bồ Nông” và bài đóng truyện “ Lại trò chuyện với Dế Mèn” và 44 câu chuyện dày 671 trang, tôi cảm thấy bút lực của Tô Hoài đầy sức sống… Tôi có ý định chụp ảnh bãi Cơm Thi bờ sông Tô Lịch đầu làng Nghĩa Đô quận Cầu Giấy – Hà Nội bây giờ. Bởi theo Tô Hoài đấy là “Vùng đi thực tế bao la của tôi”, “Bao trùm một thế giới kỳ ảo, lạ lùng”, vì chính “Trên bãi Cơm Thi đầu làng có cả một xã hội mà trong đó, trẻ con với mọi loài cây cỏ, chim muông và những con vật nho nhỏ đã thật quen biết nhau”. Vì đó là khởi nguồn cảm hứng cho Tô Hoài viết “ Con Dế Mèn” rồi “ Dế Mèn phiêu lưu ký” khi bước vào tuổi thanh niên. Và tác phẩm đầu tay này đã được Nhà xuất bản Tân Dân in năm 1942. Dế Mèn phiêu lưu ký chẳng những là tư tưởng của Tô Hoài mà cũng là tư tưởng của phần đông lớp tiểu tư sản trí thức buổi đầu giác ngộ hay mơ ước vẻ đẹp của lí tưởng. Khi nghe tôi ngỏ ý muốn chụp ảnh bãi Cơm Thi, thì Tô Hoài cho biết Từ 1954 đã không còn dấu vết nữa rồi. Quả thực từ dốc Chợ Bưởi đi lên một ngả đường Hoàng Hoa Thám, một ngả đường Cầu Giấy, chỉ còn thấy thấp thoáng con sông Tô Lịch nước đen ngòm, dòng chảy như đứng lại… Đọc truyện loài vật của Tô Hoài thấy gì? Đó là một thế giới loài vật rất đa dạng, phong phú, gần gũi với con người hàng ngày hay ngay từ các câu chuyện truyền tụng trong dân gian như Dế mèn, bọ ngựa, con chó, con mèo, con chuột, con lợn, con gà, con ngỗng, con dê, con sáo sậu, con chim chèo bẻo, con chim gáy, con bồ nông, Con vật nào cũng được mô tả ra con ấy, không trộn lẫn với nhau được… Đặc biệt những loài vật này được nhân cách hoá, phần lớn bằng cái “Tôi” tự sự trong chuyển động của không gian, thời gian với tác động của cả thiên nhiên và xã hội, hiện lên những bức tranh bảo vệ gia đình, hạnh phúc, bảo vệ quyền sống thiêng liêng, chống lại điều ác, coi trọng lý tưởng và lẽ sống, chống lại các thói hư tật xấu, xây dựng tình bằng hữu, tình hữu nghị giữa các dân tộc trong nước cũng như các nước trên thế giới… ở đây, cũng thể hiện bản lĩnh, bản sắc phong tục tập quán của từng tộc người trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là những câu chuyện sâu lắng cảm động như Dế Mèn phiêu lưu ký, Võ sĩ Bọ Ngựa, Đám cưới chuột, Đôi ri đá, Chuột thành phố, Con mèo lười hịch Chim chích lạc rừng, Chèo bẻo đánh quạ, cho đến các chùm truyện ngắn cũng đầy ý nghĩa. Song nói đến các tác phẩm mà Tô Hoài viết cho thiếu nhi mà quên không nói đến truyện Kim Đồng hay truyện Vừ A Dính hay 3 tiểu thuyết theo cổ tích truyền thuyết Đảo hoang Mai An Tiêm và quả dưa đỏ; Chuyện nỏ thần Mị Châu Trọng Thủy; Nhà Chử Chử Đồng Tử thì thật là thiếu sót. Nhấn mạnh kinh nghiệm khi viết các tác phẩm này, Tô Hoài cho rằng Tư tưởng và vốn sống sâu sắc quyết định cái hay của chữ nghĩa, của truyện, của nhân vật, của chủ đề cùng những “bí quyết” sáng tạo. Chẳng vậy nên Vân Thanh – người biên soạn hơn 200 tác giả văn học thiếu nhi Việt Nam Nhà xuất bản Từ điển Bách Khoa năm 2006 – 901 trang đã nhận xét “Nắm được yêu cầu giáo dục và chọn được hình thức miêu tả thích hợp với đặc điểm tâm sinh lý của mỗi lứa tuổi, đó là ưu điểm lớn của Tô Hoài”. Giáo sư Hà Minh Đức lại viết “Trong những sáng tác cho thiếu nhi của nhà văn Tô Hoài, những tác phẩm viết về loài vật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Thế giới loài vật được ông miêu tả từ chú Dế Mèn, con Ri đá, chú Bọ ngựa… đều sinh động lạ lùng. Ngòi bút tài tình của ông lột tả những nét đặc sắc của đối tượng qua những chi tiết chân thực, nét vẽ cụ thể, điệu bộ tự nhiên và cả thế giới nội tâm của chúng thật ngộ nghĩnh, gần gũi với con người biết bao. Viết về loài vật, Tô Hoài muốn nói đến cuộc sống con người”. Còn giáo sư Phong Lê đưa ra nhận xét “Dế mèn cùng cả một chùm truyện về loài vật trong O Chuột đã đưa Tô Hoài vào một mảng sáng tạo độc đáo, cho đến nay vẫn chưa tìm thấy ai thay thế được mảng truyện gắn nối gây được sự yêu thích cho cả hai đối tượng đọc trẻ em và người lớn, cả hai, nếu tính đến sự nối tiếp của các thế hệ và tính theo hành trình của đường đời thì theo tôi có lẽ Tô Hoài là tác giả có số lượng người đọc phổ biến và đông đảo nhất trong các tác giả của thế kỷ 20. Những đời ông, đời cha, rồi đời con của bao thế hệ độc giả cùng biết đến Dế mèn… cùng hâm mộ Dế mèn; phải nói đó là món quà thật lí thú cho một đời văn…” Sau 10 năm được giải thưởng Hồ Chí Minh Mùa thu 1996 – nhà văn Tô Hoài được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu tiên với cụm tác phẩm Truyện Tây Bắc năm 1953, Vợ chồng A Phủ năm 1969, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ năm 1971. Trong đó tiểu thuyết Tây Bắc cũng như Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc ngay từ 1954 đã được giải nhất của Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1970, Tô Hoài còn nhận được giải thưởng Hoa Sen cho tiểu thuyết Miền Tây của Hội Nhà văn Á Phi. Sau 10 năm được giải thưởng Hồ Chí Minh, Tô Hoài đã có thêm những đóng góp gì? Không thể tính được các loại sách tái bản. Chỉ riêng viết Hồi ký “ Chiều, chiều”, “101 truyện cổ tích” cũng gần 1000 trang; “Ba người khác”. Bên cạnh đó, Tô Hoài vẫn giữ chuyên mục Tản Văn cho Tuần báo “Người Hà Nội”. Các bài đăng ở mục này đã tập hợp thành tập sách đầu tiên 400 trang có tựa đề “Giấc mộng ông thợ Rìu”… Viết bài này, tôi muốn đề đạt lên Đảng, Nhà nước ý nguyện của một số nhà văn Nhà nước đã phong tặng Anh hùng lao động của ngành khoa học xã hội là giáo sư Vũ Khiêm và giáo sư Trần Văn Giàu. Chúng ta có nên phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động cho nhà văn không? Nhà văn Tô Hoài đã tham gia kháng chiến và lao động nghề nghiệp có hiệu quả giáo dục thế hệ trẻ thật xứng đáng… LỜI CẢM ƠN Trong quá trình hoàn thiện khóa luận này, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, tổ bộ môn Văn học Việt Nam và ThS. Nguyễn Phƣơng Hà – giáo viên trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận này. Do khả năng còn hạn chế và thời gian có hạn, chắc chắn khóa luận không tránh khỏi những thiếu xót, chúng tôi mong tiếp tục nhận được sự đóng góp của các thầy, cô và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 05 năm 2014 Sinh viên Dƣơng Thị Hạnh LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Khóa luận tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Phƣơng Hà và không hề có sao chép, trùng lặp với bất kỳ công trình, tài liệu nào khác. Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm. Hà Nội, tháng 05 năm 2014 Sinh viên Dƣơng Thị Hạnh MỤC LỤC MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1 1. Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 1 2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 2 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................. 4 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu............................................................... 5 5. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 5 6. Đóng góp của khóa luận ............................................................................. 5 7. Cấu trúc của khóa luận ............................................................................... 5 NỘI DUNG ................................................................................................... 6 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .................................................. 6 Thế giới nghệ thuật ................................................................................ 6 Tô Hoài – Hành trình sáng tác và phong cách nghệ thuật ....................... 7 Cuộc đời ...................................................................................... 7 Sự nghiệp sáng tác ...................................................................... 9 Phong cách nghệ thuật .............................................................. 11 Vị trí của tiểu thuyết Miền Tây trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài .. 14 CHƢƠNG 2 HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MIỀN TÂY CỦA TÔ HOÀI ................................................................. 16 Khái niệm nhân vật ................................................................................ 16 Các loại hình nhân vật ........................................................................... 17 Những con người nghèo khổ, bất hạnh ...................................... 17 Những con buôn vụ lợi .............................................................. 20 Những người đại diện cho Cách mạng, Chính phủ .................... 23 CHƢƠNG 3 CÁC BIỂU HIỆN NGHỆ THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT MIỀN TÂY ................................................................................. 26 Cốt truyện và kết cấu ............................................................................. 26 Cốt truyện ................................................................................. 26 Kết cấu ..................................................................................... 28 Ngôn ngữ............................................................................................... 30 Ngôn ngữ đối thoại mang đậm khẩu ngữ sinh hoạt.................... 30 Ngôn ngữ độc thoại ................................................................... 35 Nghệ thuật xây dựng nhân vật ............................................................... 37 Miêu tả ngoại hình .................................................................... 37 Miêu tả tâm lí ............................................................................ 41 Không gian và thời gian nghệ thuật ....................................................... 44 Không gian nghệ thuật.............................................................. 44 Thời gian nghệ thuật ................................................................. 47 KẾT LUẬN ................................................................................................. 52 TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Tô Hoài là nhà văn có vị trí đặc biệt trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Ông cầm bút từ khoảng những năm 40 của thế kỉ XX, nhanh chóng trưởng thành và trở thành cây bút gạo cội của văn xuôi hiện đại. Trải qua những mốc lịch sử quan trọng của đất nước, hành trình lao động nghệ thuật của Tô Hoài vẫn tiếp tục cho đến bây giờ. Với sức sáng tạo không ngừng, Tô Hoài đã tạo ra một khối lượng tác phẩm đồ sộ mà ít nhà văn nào sánh kịp. Sáng tác của Tô Hoài phong phú đa dạng về thể loại truyện ngắn, truyện dài, tiểu thuyết, hồi kí, kịch bản phim… Ở thể loại nào ông cũng đạt được thành tựu rực rỡ và tạo được phong cách riêng. Tác phẩm của Tô Hoài tập trung ở một số đề tài lớn vùng quê ngoại thành Hà Nội, miền núi Tây Bắc – Việt Bắc trong kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội, sáng tác cho thiếu nhi, chân dung và hồi ức. Trong đó, miền núi là đề tài mà nhà văn rất tâm huyết. Có thể kể đến hàng loạt tác phẩm như Truyện Tây Bắc, Họ Giàng ở Phìn Sa, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ… tiêu biểu là tiểu thuyết Miền Tây. Bằng vốn sống, vốn hiểu biết cùng với khả năng quan sát và cảm nhận tinh tế của mình, Tô Hoài đã tái hiện hết sức sinh động bức tranh thiên nhiên và đời sống con người miền núi. Qua ngòi bút của nhà văn, các phong tục tập quán cũng như những nét văn hóa đẹp đẽ của người miền núi Việt Bắc nói riêng và Tây Bắc nói chung như hiện lên trước mắt và để lại ấn tượng trong lòng độc giả. Tô Hoài là tác giả văn học được giảng dạy, học tập trong nhiều cấp ở nhà trường của chúng ta hiện nay Đại học, Cao đẳng, THPT, THCS. Vì thế, nghiên cứu Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài giúp chúng ta hiểu đúng và cảm thụ tốt tác phẩm của ông là việc làm khoa học cần thiết và ý nghĩa. 1 2. Lịch sử vấn đề Tô Hoài là một trong số các tác giả lớn của nền văn học Việt Nam. Với phong cách nghệ thuật đặc sắc, ông đã khẳng định được vị trí của mình trên văn đàn. Hơn bảy mươi năm lao động nghệ thuật, ông cho ra đời hơn 160 đầu sách ở nhiều thể loại khác nhau như truyện ngắn, tiểu thuyết, tự truyện, kí, truyện thiếu nhi, tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác. Nhiều tác phẩm của ông được giới nghiên cứu phê bình văn học quan tâm chú ý như Truyện Tây Bắc, Cát bụi chân ai, Quê người, Quê nhà… Đặc biệt phải kể đến tiểu thuyết Miền Tây. Tiểu thuyết Miền Tây ra đời năm 1967, là tác phẩm thuộc hệ thống các sáng tác về đề tài miền núi của Tô Hoài. Mặc dù là đứa con sinh sau nhưng Miền Tây vẫn gặt hái những thành công nhất định. Tiểu thuyết đã đoạt được giải thưởng Hoa sen của Hội nhà văn Á Phi năm 1970 và được giới chuyên môn đánh giá cao. Trong Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài, GS. Hà Minh Đức khẳng định “Miền Tây là một tác phẩm có giá trị đánh dấu một thành tựu quan trọng của Tô Hoài về đề tài miền núi… Ông chú ý nhiều đến đặc điểm dân tộc của người H’mông từ phong tục tập quán sở thích đến diễn biến tâm lý của các nhân vật”. Điểm lại lịch sử nghiên cứu về tác giả và tác phẩm của Tô Hoài, tác giả Khái Vinh trong bài Đọc Miền Tây đăng trên báo Nhân dân ngày 25/5/1969 cũng cho rằng “Miền Tây là cuốn tiểu thuyết viết sinh động có nhiều chương tả cảnh hấp dẫn đặc biệt là những chương miêu tả về các phiên chợ Phìn Sa trước Cách mạng, về phong tục tập quán của đồng bào của các dân tộc vùng cao… Đọc Miền Tây người ta bị thu hút bởi thiên nhiên và phong tục, tập quán của đồng bào miền núi”. 2 Tác giả Nguyễn Văn Long trong bài Tô Hoài và một phong cách tiểu thuyết đăng trên trang đã viết “Cùng với vốn hiểu biết kỹ càng và nhiều mặt về các dân tộc ở Tây Bắc, tác giả đã khai thác nhiều tư liệu lịch sử, chính trị, quân sự, với ý đồ dựng lại sự vận động của lịch sử qua những biến đổi của cuộc sống, con người ở vùng Phìn Sa. Cuốn tiểu thuyết trình bày những bức tranh đối lập của hai thời kì xưa và nay trong cuộc sống và số phận những con người miền núi ở một vùng xa xôi … Đọc Tô Hoài người đọc tiếp xúc với vô số phong tục, tập tục từ sinh hoạt trong gia đình, trong nhà, đến những sinh hoạt cộng đồng, lễ hội, ma chay, cưới hỏi… ở rất nhiều vùng, từ làng quê ven thành, vùng đồng bằng Bắc Bộ đến vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi, cả ở những xứ sở xa xôi ngoài biên giới. Bất cứ nhà dân tộc học, xã hội học nào cũng mong có được một vốn hiểu biết cực kỳ phong phú sinh động như của nhà văn Tô Hoài”. Với GS. Phan Cự Đệ trong bài Tô Hoài với Miền Tây đăng trên báo Văn nghệ số 268 cho rằng “Miền Tây phần nào thể hiện được đặc điểm phong cách Tô Hoài, bao giờ cũng cố gắng gắn liền chất liệu thực với màu sắc lãng mạn, trữ tình thơ mộng trong tác phẩm của mình… Tô Hoài đã cố gắng tạo cho các nhân vật của mình có một thứ riêng, ngôn ngữ phản ánh tính cách… Trong tiểu thuyết Miền Tây, ta bắt gặp một thứ ngôn ngữ trong sáng, giàu hình tượng của quần chúng được nâng lên ở một trình độ nghệ thuật mới”. Nhà văn Nguyễn Công Hoan trong bài Trau dồi tiếng Việt chú ý đến việc sử dụng ngôn ngữ trong tiểu thuyết Miền Tây “Theo dư luận mà tôi lượm lặt được ở phần lớn độc giả cuốn Miền Tây của Tô Hoài thì trong ngành truyện nhỏ và truyện dài của ta mấy chục năm nay chưa có một tác phẩm nào viết bằng văn xuôi mà gọt dũa tỉ mỉ từng chữ, từng câu làm cho những trang phảng phất một chất thơ mà nhiều bài thơ còn thua xa” [10, 520]. 3 Gần đây trong một số khóa luận, luận văn đã đề cập tới tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài Vũ Thị Thanh trong Khóa luận tốt nghiệp với đề tài Bản sắc văn hoá miền núi trong tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài đã khai thác vấn đề bản sắc văn hóa miền núi, đồng thời cũng đề cập khái quát về một số nhân vật chính và nhân vật phụ trong tác phẩm. Như vậy, nhìn lại lịch sử nghiên cứu tác phẩm của Tô Hoài đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về tiểu thuyết Miền Tây ở các phương diện ngôn ngữ nghệ thuật, thế giới nhân vật… Tuy nhiên, những bài viết này chủ yếu là những đề cập riêng biệt, lẻ tẻ, có tính chất khai phá, gợi mở. Kế thừa những người đi trước, chúng tôi đi sâu nghiên cứu đề tài Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài với mục đích chứng minh, làm rõ hơn vấn đề trên, góp phần khẳng định phong cách nghệ thuật độc đáo cũng như những thành công về thể loại tiểu thuyết của Tô Hoài. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Với đề tài này, tác giả khóa luận hướng đến các mục đích sau Tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài trên các phương diện nhân vật, cốt truyện, kết cấu, ngôn ngữ, nghệ thuật xây dựng nhân vật, không gian, thời gian. Thấy được vị trí và những đóng góp quan trọng của Tô Hoài đối với quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc. Nhiệm vụ nghiên cứu Khóa luận đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau Tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài. Chỉ ra một số phương diện nghệ thuật thể hiện thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền Tây. 4 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu Như tên gọi của đề tài, chúng tôi đi sâu tìm hiểu Thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài. Trong đó, người viết tập trung vào hai phương diện cơ bản Thế giới nhân vật và một số phương diện về hình thức nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền Tây. Phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp, phạm vi mà chúng tôi khảo sát là tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài Tuyển tập Tô Hoài Tập 2, Nhà xuất bản Văn học, 1987. 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong khóa luận này, người viết chủ yếu sử dụng các phương pháp Phương pháp thống kê Phương pháp phân tích, bình giảng Phương pháp tổng hợp, khái quát 6. Đóng góp của khóa luận Góp phần khẳng định tài năng và sự sáng tạo trong tư duy nghệ thuật của Tô Hoài. Đóng góp thiết thực vào việc giảng dạy, học tập các tác phẩm của Tô Hoài trong nhà trường. 7. Cấu trúc của khóa luận Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, nội dung khóa luận được triển khai thành ba chương Chương 1 Những vấn đề chung Chương 2 Hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài Chương 3 Các biểu hiện nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền Tây 5 NỘI DUNG CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Thế giới nghệ thuật Nhà văn Seđrin quan niệm “Tác phẩm văn học là một vũ trụ thu nhỏ, mỗi sản phẩm nghệ thuật là một thế giới khép kín trong bản thân nó”. Nói cách khác, một tác phẩm toàn vẹn phải xuất hiện như một thế giới nghệ thuật. Belinxki cũng từng nhận xét “Mọi sản phẩm nghệ thuật đều là một thế giới riêng mà khi đi vào đó thì ta buộc phải sống theo các quy luật của nó, hít thở không khí của nó”. Theo giáo trình Lí luận văn học, tác giả Trần Đình Sử cho rằng “Thế giới nghệ thuật là văn bản hình tượng – văn bản nội tại của văn bản ngôn từ. Gọi thế giới nghệ thuật là văn bản bởi các hình tượng có tính chất kí hiệu, có khả năng biểu hiện một phức hợp ý nghĩa – tư tưởng nhất định mà người ta cần đọc từng bộ phận, chi tiết để nhận ra. Gọi bằng thế giới nghệ thuật bởi vì đó là cấu tạo đặc biệt, có sự thống nhất không tách rời, vừa có sự phản ánh thực tại, vừa có sự tưởng tượng sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ thế giới bên trong nhà văn. Thế giới nghệ thuật là một thế giới kép thế giới được miêu tả và thế giới miêu tả. Thế giới được miêu tả gồm nhân vật, sự kiện, cảnh vật…Thế giới miêu tả là thế giới của người kể chuyện, người trữ tình. Hai thế giới này gắn kết không tách rời như hai mặt của một tờ giấy. Tuy nhiên chúng không thể liên thông” [9, 81]. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào 6 lưu. Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lí của con người, mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy” [4, 302]. Có thể thấy, thế giới nghệ thuật trong văn học phản ánh vũ trụ và con người theo cách riêng của nó. Nhà văn – người nghệ sĩ muốn khẳng định tài năng, cá tính riêng của mình thì phải tạo ra được thế giới nghệ thuật riêng. Nó bao gồm không gian, thời gian riêng, quy luật tâm lí và quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị riêng… và xuất hiện một cách ước lệ trong sáng tác nghệ thuật. Như vậy, mỗi thế giới nghệ thuật ứng với quan niệm riêng về thế giới, cắt nghĩa về thế giới, giúp ta hình dung tính độc đáo về tư duy nghệ thuật và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Mặt khác, văn học lấy chất liệu là hiện thực khách quan song mỗi nhà văn lại có cái nhìn và cảm nhận khác nhau. Vì thế, mỗi tác phẩm sẽ là một thế giới nghệ thuật riêng, nó đặt ra nhiệm vụ cho người tiếp nhận là phải tìm hiểu để có thể bước vào thế giới của tác phẩm. Có thể kể đến các yếu tố biểu hiện của thế giới nghệ thuật như không gian, thời gian nghệ thuật, nhân vật, ngôn ngữ, giọng điệu… Khi nghiên cứu bất kì một tác phẩm văn học nào, việc tìm hiểu thế giới nghệ thuật là điều cần thiết. Nó sẽ giúp người đọc phần nào hiểu được quan niệm nghệ thuật, ý đồ, mục đích sáng tạo của tác giả. Vì thế, tìm hiểu thế giới nghệ thuật trong tiểu thuyết Miền Tây của Tô Hoài cũng không nằm ngoài mục đích đó. Tô Hoài – Hành trình sáng tác và phong cách nghệ thuật Cuộc đời Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh năm 1920 tại quê ngoại – làng Nghĩa Đô, phủ Hoài Đức nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội. 7 Ông sinh trưởng trong một gia đình thợ thủ công nghèo. Bút danh Tô Hoài cũng xuất phát từ hai địa danh sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức quê ngoại nhà văn. Thuở nhỏ, Tô Hoài chỉ được học hết tiểu học rồi sớm trở thành anh thợ cửi như bao thanh niên khác. Sau đó, ông phải kiếm sống bằng nhiều nghề khác nhau bán hàng, dạy học tư, coi kho, kế toán hiệu buôn… trải qua những ngày tháng thất nghiệp tủi nhục không một đồng xu dính túi. Cuộc sống khổ cực được Tô Hoài tái hiện qua cuốn Tự truyện bằng nỗi xót xa và cay đắng “Ngày ngày tôi cuốc bộ vào thành phố tha thẩn ở các vườn hoa. Tôi xem kiến bò đến tận hôm tôi có thể phân biệt rạch ròi ra từng loại kiến xây tổ khác nhau”. Chính hoàn cảnh xuất thân, cuộc sống khó khăn của gia đình… đã tác động sâu sắc đến Tô Hoài khiến ông có sự đồng cảm với những số phận bé nhỏ, kiếp người lao động vất vả trong xã hội. Đồng thời, đây cũng là những kiến thức thực tế trong những trang viết đầy tính chân thực của nhà văn sau này. Tô Hoài đến với nghề văn hết sức tự nhiên. Ông viết văn bằng vốn sống trực tiếp với sự thôi thúc từ bên trong của tâm hồn chứa chan cảm xúc. Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn trong bài Tô Hoài và những nghiêm chỉnh của kiếp phù du khẳng định “Cảm tưởng như bao nhiêu kinh nghiệm hàng ngày, trước sau đều được nhà văn đưa hết vào trang giấy. Ông sống để viết và phải viết, như phải ăn phải uống”. Tô Hoài viết rất nhiều, dường như những câu chuyện của ông không bao giờ vơi cạn. Càng viết, nhà văn càng chứng tỏ năng lực của mình, sự hăng say và sáng tạo... Tô Hoài sớm tham gia hoạt động chính trị. Trước cách mạng tháng Tám, ông tham gia Hội Văn hóa cứu quốc, hoạt động tuyên truyền Việt Minh, viết báo bí mật. Sau năm 1945, Tô Hoài làm báo Cứu quốc – cơ quan của Tổng bộ Việt Minh. Tháng 10 năm 1946, ông được vinh dự đứng trong hàng 8 ngũ của Đảng Cộng Sản. Từ đây ông càng tham gia tích cực hơn vào các hoạt động cách mạng. Năm 1957, Tô Hoài được bầu làm Tổng thư kí của Hội, rồi giữ chức chủ tịch Hội Văn nghệ Việt Nam. Không chỉ có vậy, ông còn tham gia các hoạt động xã hội khác như đại biểu Quốc hội khóa VII, Phó chủ tịch ủy ban đoàn kết Á – Phi, Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt – Ấn, Ủy viên Ban Chấp Hành Hội hữu nghị Việt – Xô. Chính quá trình tham gia hoạt động cách mạng và giữ nhiều trọng trách khác nhau đã giúp Tô Hoài gắn bó khăng khít hơn với quần chúng nhân dân đặc biệt là người lao động. Vốn hiểu biết cùng với sự từng trải đó đã trở thành nguồn tư liệu quý giá cho cuộc đời viết văn của ông sau này. Tô Hoài vinh dự được Nhà nước trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I năm 1996. Sự nghiệp sáng tác  Trƣớc Cách mạng tháng Tám Tô Hoài là cây bút tiêu biểu cho văn xuôi hiện thực, thành công ở nhiều thể loại + Truyện ngắn Dế mèn phiêu lưu ký 1941, O Chuột 1942, Giăng thề 1943, Nhà nghèo 1944, Xóm Giếng ngày xưa 1944 + Hồi kí Cỏ dại 1944 + Tiểu thuyết Quê người 1941 Sáng tác của Tô Hoài thời kì này tập trung vào hai mảng đề tài truyện đồng thoại về loài vật và truyện về nông thôn trong cảnh đói nghèo. Truyện viết về loài vật của Tô Hoài có một vị trí đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Tác phẩm đầu tay Dế mèn phiêu lưu ký là một thành công xuất sắc của Tô Hoài, khẳng định vị trí của ông trên văn đàn. Viết về loài vật, Tô Hoài tìm đến hình thức sáng tác đồng thoại. Ông đã 9 viết về thế giới loài vật trong cảm quan sinh hoạt, phong tục như đời sống của con người. Bên cạnh truyện viết về loài vật, đề tài miêu tả cảnh đói nghèo của người dân ở vùng ven Hà Nội, sống bằng nghề dệt thủ công, cũng được nhà văn đã miêu tả chân thật và sinh động. Cuộc sống cùng quẫn bế tắc của những những người nông dân, thợ thủ công quanh năm lam lũ, điêu đứng vì miếng cơm manh áo, phiêu bạt nơi đất khách quê người. Có thể kể đến những tác phẩm như Nhà nghèo, Ông Cúm bà Co, Xóm Giếng ngày xưa… Với cái nhìn khách quan, chân thực, mỗi tác phẩm của Tô Hoài đều là minh chứng phản ánh cuộc sống nghèo đói, lạc hậu bấp bênh của người dân nghèo trước Cách mạng. Qua đó, Tô Hoài đã khẳng định được vị trí của một nhà văn hiện thực. Ở đề tài nào và đối tượng phản ánh nào, thế giới nghệ thuật của ông đều thấm đượm tính nhân văn.  Sau cách mạng tháng Tám Cách mạng tháng Tám đánh dấu một bước chuyển biến trong tư tưởng và sáng tác của Tô Hoài. Ông đã nhanh chóng nắm bắt kịp thời các vấn đề mới của đời sống và sáng tác thành công ở nhiều thể loại khác nhau + Truyện ngắn Núi cứu quốc 1948, Xuống làng 1950, Truyện Tây Bắc 1953, Khác trước 1957, Vỡ tỉnh 1962, Người ven thành 1972, Người một mình 1998… + Truyện thiếu nhi Tuyển tập Văn học thiếu nhi, tập I & II 1999 + Tiểu thuyết Mười năm 1957, Miền Tây 1967, Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ 1971, Đảo hoang 1976, Những ngõ phố, người đường phố 1980, Quê nhà 1981, Họ Giàng ở Phìn Sa 1984, Nhớ Mai Châu 1988. + Kí Đại đội Thắng Bình 1950, Nhật kí vùng cao 1969, Lăng Bác Hồ 1977, Tự truyện 1978, Hoa hồng vàng song cửa 1981, Cát bụi chân 10 ai 1992, Chuyện cũ Hà Nội 1998, Chiều chiều 1999, Ba người khác 2006… + Tiểu luận và kinh nghiệm sáng tác Một số kinh nghiệm viết văn của tôi 1959, Người bạn đọc ấy 1963, Sổ tay viết văn 1977, Nghệ thuật và phương pháp viết văn 1997. Giai đoạn này, Tô Hoài không bó hẹp nội dung và đối tượng phản ánh trong phạm vi của một vùng dân nghèo ngoại thành Hà Nội mà ông còn hướng đến một không gian rộng lớn hơn. Đó là cuộc sống của nhiều lớp người, nhiều vùng đất khác nhau, nổi bật nhất là miền núi Tây Bắc. Tô Hoài viết về Tây Bắc không chỉ bằng tài năng nghệ thuật, vốn sống phong phú, mà còn bằng cả tình yêu đằm thắm thiết tha như chính quê hương mình. Tiêu biểu cho mảng sáng tác về đề tài miền núi có thể kể đến Núi cứu quốc, Truyện Tây Bắc và đặc biệt là tiểu thuyết Miền Tây. Không chỉ thành công ở thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết, Tô Hoài còn đạt được thành tựu đặc sắc ở thể kí và hồi kí Cát bụi chân ai, Nhật kí vùng cao, Lên Sùng Đô, Tự truyện… Qua các tác phẩm, người đọc nhận ra nhà văn đã đặt đời sống vào điểm nhìn cá nhân, cái nhìn về đời sống về con người được dân chủ hóa. Tóm lại, toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài đã khẳng định được vị trí và tài năng nghệ thuật của ông trước hiện thực của cuộc đời mới. Ông xứng đáng là một tấm gương trong sáng trong lao động nghệ thuật, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phong cách nghệ thuật Hoàn cảnh gia đình, xã hội, bản thân đã đưa Tô Hoài đến với nghề văn. Ông cho rằng văn học có khả năng nói được những điều giản dị của đời sống xung quanh, những trải nghiệm cơm áo hàng ngày. Mọi chuyện vui buồn trong đời sống sinh hoạt đều được nhà văn chuyển tải lên trang giấy. Bạn bè, 11 hàng xóm… đều có thể bắt gặp câu chuyện, lời nói của họ trong sáng tác của ông. Bởi “người ta nói thế nào tôi cứ theo thế mà xào xáo thành văn… tôi biết rất rõ tiếng này chính ngày trước ai hay nói, bà tôi, mẹ tôi, ông hàng xóm…” [8, 152]. Ông luôn có ý thức sâu sắc học tập lời ăn, tiếng nói của quần chúng nhân dân lao động. Trong khi các nhà văn hiện thực quan niệm tiểu thuyết phải là sự thực ở đời, phản ánh đời sống qua xung đột giai cấp, quan hệ giàu nghèo thì sáng tác của Tô Hoài chủ yếu vẫn nhìn con người ở góc độ đời tư. Họ là những người lao động nhỏ bé, giản dị gắn với cuộc sống đời thường. Theo Tô Hoài, con người trước khi là một ai đó thì trước hết phải là chính mình với tất cả những gì mà tạo hoá đã ban tặng; cũng vui buồn, đau khổ, hạnh phúc, cũng có mặt tốt và mặt xấu. Ông không chỉ nêu ra những thói hư tật xấu của con người mà còn gián tiếp khẳng định ẩn sâu trong mỗi con người luôn có mặt tốt đẹp làm nền tảng đạo đức. Điều đó được phản ánh qua tác phẩm Quê người. Nhân vật Thoại đánh liều ra đồng bắt trộm chó không thành nên vợ chồng con cái đùm dúm dắt nhau đi lang bạt nơi đất khách quê người. Lão lái Khế Khách nợ hạch sách, dọa nạt, moi tiền con nợ bằng nhiều mẹo vặt, nhưng lão vẫn còn nhận ra cảnh cùng kiệt của nhà Hương Cay. Rõ ràng, con người tha hóa trong văn Tô Hoài không hoàn toàn biến chất. Con người trong sáng tác của Tô Hoài hiện lên như những số kiếp tự nhiên, dường như muôn thuở họ phải đối mặt với những chuyện mưu sinh, cơm áo gạo tiền… Viết về những kiếp người lao động nhỏ bé, bình dị xung quanh cuộc sống của mình, nhà văn dường như am hiểu tâm lý, tư tưởng tình cảm của họ. Những câu chuyện, con người đó hiện lên sinh động, sắc nét trong trang văn của Tô Hoài. Đó là thân phận của bà lão Vối Mẹ già buộc lòng nhẫn nhục sống nương nhờ vào con. Đó là số phận khổ cực của anh Duyện Nhà nghèo quanh năm điêu đứng vì miếng cơm manh áo. 12 Khi viết về những người chiến sĩ hoạt động cách mạng, Tô Hoài cũng ít khi lí tưởng hóa vẻ đẹp ngoại hình hoặc phẩm chất tính cách mà dưới ngòi bút của ông họ vừa có phẩm chất, vừa có thói tật, vừa có cái xấu, cái tốt như một con người bình thường. Họ cũng chỉ là những con người giữa đời thường, cũng vất vả, cũng nhút nhát… Vì thế, nhân vật trong văn Tô Hoài rất bình dị, thân thuộc với độc giả. Có thể kể đến nhân vật Nghĩa Miền Tây, A Châu Vợ chồng A Phủ, Đức Xuân Núi cứu quốc… Viết về thế giới loài vật, những trang văn được Tô Hoài miêu tả cũng rất gần gũi, đời thường. Ông viết về chuồn chuồn kim, gi đá, dế mèn, chim chóc… Đó những con vật bé nhỏ, “xoàng xĩnh” nhất nhưng nó rất gần gũi với cuộc sống sinh hoạt của con người, mang tính cách, số phận như con người. Đó là mụ Ngan trong tác phẩm cùng tên, tính nết vô tâm đần độn quá, tranh ăn với cả lũ con thơ; là Gà mái Một cuộc bể dâu vừa là “một người đàn bà giỏi giang … Một bậc mẹ hiền gương mẫu”. Vợ chồng Gi đá Đôi Gi đá chăm chỉ không quản gió mưa, cần mẫn “làm nhà” trên cây hồng bì. Bên cạnh đó, Tô Hoài cũng chú ý miêu tả cuộc sống sinh hoạt, những phong tục quen thuộc của từng vùng quê, từng gia đình, từng con người. Ông ít tập trung vào những mâu thuẫn xã hội mang tính đối kháng quyết liệt, mà đi sâu phản ánh cuộc sống sinh hoạt với những phong tục, tập tục nơi chôn rau cắt rốn. Đó cũng là nơi những người nông dân, thợ thủ công cùng ở một làng cùng làm một nghề, cùng quan tâm đến những buồn vui, tốt xấu trong cuộc sống theo quy luật tự nhiên của nó. Trong văn Tô Hoài luôn lưu giữ một kho kiến thức về phong tục tập quán của người Việt, nếu tước bỏ đi ý nghĩa phong tục thì tác phẩm sẽ không còn vẻ hấp dẫn vốn có nữa. Đó là nạn tảo hôn Vợ chồng trẻ con, ma chay, cưới xin Quê người, tục cướp vợ, cho vay lãi, trình ma Vợ chồng A Phủ, phạt vạ Cứu đất cứu Mường, tục đấu vật, bắn nỏ Nỏ thần… 13 Không chỉ có vậy, thiên nhiên trong văn Tô Hoài cũng được miêu tả như trong cuộc sống thực. Đó không chỉ là hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ với những màu sắc rực rỡ của cỏ cây hoa lá Miền Tây, Nỏ thần, Đảo hoang…, mà còn là hình ảnh thiên nhiên dữ dội, khắc nghiệt, đem đến không ít những hiểm nguy cho con người Miền Tây, Nhớ Mai Châu…. Bằng sự cảm thông, lòng yêu mến đối với những con người sống xung quanh mình, Tô Hoài đã khá tinh tế và sâu sắc khi phản ánh cuộc sống và con người đời thường trong mỗi trang viết. Qua các tác phẩm của mình, nhà văn đã thể hiện cách nhìn về đời sống, cách nhìn nhận về con người tạo nên quan niệm nghệ thuật về hiện thực đời thường; quan niệm nghệ thuật về sinh hoạt, phong tục. Điều đó đã tạo nên phong cách nghệ thuật Tô Hoài. Vị trí của tiểu thuyết Miền Tây trong sự nghiệp sáng tác của Tô Hoài Tiểu thuyết Miền Tây ra đời năm 1967. Lúc bấy giờ, miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiến hành xây dựng xã hội chủ nghĩa làm hậu phương vững chắc cho miền Nam đấu tranh giành độc lập. Tác phẩm kể về gia đình bà Giàng Súa và những người dân ở Phìn Sa thuộc miền núi Tây Bắc. Nhân vật chính là bà Giàng Súa. Chồng chết khi đi phu cho quan, bốn mẹ con bị hàng xóm cho là có ma nên hắt hủi, xua đuổi phải dắt díu nhau chạy trốn vào rừng sống chui lủi. Cách mạng thành công, bà Giàng Súa trở về được sống trong tình thương và sự đùm bọc của làng xóm, Đảng, Chính phủ. Bà tự hào vì sự trưởng thành của các con. Thào Khay trở thành y sĩ, là một cán bộ gương mẫu của Đảng, giữ trọng trách trong châu ủy Châu Yên. Thào Mỵ được cử xuống Hà Nội học y, cống hiến và phục vụ nhân dân, Tổ quốc. Trước cách mạng, cuộc sống của người dân ở miền núi thường được các nhà văn thi vị hóa. Dưới ngòi bút của họ, cuộc sống trên những vùng cao là một thế giới riêng biệt, khác hẳn với chốn phồn hoa đô thị. Đó là một thế giới đầy mơ mộng vớ những cô gái dân tộc xinh đẹp, thuần hậu, những phiên 14 chợ tình đầy sức hấp dẫn. Với tiểu thuyết Miền Tây, Tô Hoài đã cho người đọc thấy thế giới mơ mộng ấy chính là nơi chứa đầy những hủ tục, tục lệ lạc hậu. Trong đó bọn cường hào, thống lý ra sức bóc lột áp bức nông dân. Bằng vốn sống phong phú cùng sự hiểu biết sâu sắc về đồng bào miền núi, nhà văn dùng ngòi bút kịch liệt lên án các hủ tục, tục lệ lạc hậu, thối nát ở miền núi, đồng thời phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp gay go, phức tạp ở các vùng cao trong những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đồng thời qua tiểu thuyết Miền Tây, Tô Hoài cũng khẳng định vai trò, sức mạnh của Cách mạng đã làm thay đổi cuộc sống tăm tối, tù túng của người đồng bào miền núi, giúp họ thoát khỏi những quan niệm, hủ tục lạc hậu để xây dựng cho quê hương, đất nước. 15 CHƢƠNG 2 HÌNH TƢỢNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT MIỀN TÂY CỦA TÔ HOÀI Khái niệm nhân vật Có thể thấy, nhân vật là yếu tố trung tâm thuộc cấu trúc của tác phẩm văn học. Nó có vai trò quan trọng trong việc tái hiện hiện thực xã hội và thể hiện tư tưởng của tác phẩm. Nhân vật còn là nơi nhà văn thể hiện quan niệm nghệ thuật và lí tưởng thẩm mỹ của chính bản thân mình về con người. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi cho rằng Nhân vật văn học là “con người cụ thể được miêu tả trong tác phẩm văn học. Nhân vật văn học có thể có tên riêng cũng có thể không có tên riêng… thể hiện quan niệm nghệ thuật và liên tưởng thẩm mĩ của nhà văn về con người. Vì thế nhân vật luôn gắn chặt với chủ đề của tác phẩm. Nhân vật văn học được miêu tả qua các biến cố, xung đột, mâu thuẫn và mọi chi tiết các loại. Đó là mâu thuẫn nội tâm của nhân vật, mâu thuẫn giữa nhân vật này với nhân vật kia, giữa tuyến nhân vật này với tuyến nhân vật khác. Cho nên nhân vật luôn luôn gắn liền với cốt truyện” [4, 235]. Khái niệm nhân vật còn được định nghĩa trong giáo trình Lí luận văn học Hà Minh Đức chủ biên “Nhân vật văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách… và cần chú ý thêm rằng thực ra khái niệm nhân vật thường được quan niệm với một phạm vi rộng hơn nhiều, đó không chỉ là con người, những con người có tên hoặc không tên, được khắc họa sâu đậm, hoặc chỉ xuất hiện thoáng qua trong tác phẩm, mà còn có thể là những sự vật, loài 16 Miền Tây GIỚI THIỆU CHUNG Tác giả Tô Hoài Thể loại Tiểu thuyết, Văn học Việt Nam Nguồn Sưu tầm Trạng thái Hoàn thành NỘI DUNG TRUYỆN Trong làng văn học Việt Nam rất hiếm có nhà văn nào nhận được sự yêu thương, mến mộ từ nhiều thế hệ độc giả khác nhau như nhà văn Tô Hoài. Nếu các bạn nhỏ biết đến ông như một người bạn dí dỏm và đáng yêu qua kiệt tác Dế mèn phiêu lưu ký và series truyện ngộ nghĩnh về loài vật. Thì độc giả lớn tuổi biết đến ông như một cây đại thụ của làng văn. Được viết năm 1965, Miền Tây là tác phẩm tiếp nối cho đề tài về vùng đất Tây Bắc “để thương để nhớ” cho Tô Hoài trong suốt cuộc đời cầm bút của mình. Tô Hoài đã dành cho cuốn tiểu thuyết những nét vẽ chân thật và sinh động nhất. Với hình ảnh những người con đất Phiềng Sa tình nghĩa. Nó đã sống qua hết những vất vả, đau thương, đấu tranh và dựng xây. Khai thác nhiều tư liệu lịch sử, chính trị, quân sự, tác phẩm đã tạo nên những bức tranh đối lập xưa và nay trong cuộc sống, số phận con người Phiềng Sa. cập nhật audio truyện mới và hot nhất hiện nay. Các bạn muốn nghe truyện gì tiếp theo 🤔? Hãy đánh giá 5* và để lại tên truyện trong comment cho chúng tớ biết nhé! ^^ Mời các bạn nghe audio truyện full được sưu tầm bởi ️️ Truyện đã được up hoàn chỉnh. Chúc các bạn nghe truyện vui vẻ. 💛🧡 Cảm ơn các bạn đã lắng nghe và ủng hộ chúng tôi 🧡💛 📧 Email góp ý info 💌 Facebook Tô Hoài thuộc thế hệ vàng của văn chương hiện đại, cùng thời với Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Xuân Diệu, Huy Cận. Nhiều cuốn sách của Tô Hoài khi ra mắt bạn đọc đã trở thành những cơn “địa chấn” một thời như hai cuốn hồi ký Cát bụi chân ai, Chiều chiều hay Miền Tây…Quê NhàXem giá bánQuê Nhà là bức tranh tái hiện lại cuộc chiến đấu anh dũng của những anh hùng vô danh, những người mà trước đó tay chỉ quen với việc cấy việc cày việc nhà việc cửa nay lại dũng cảm đứng lên giương cờ nghĩa trong những năm đầu khi thực dân Pháp xâm Mèn Phiêu Lưu KýXem giá bánDế Mèn phiêu lưu ký được xem là những trang văn mẫu mực của văn học thiếu nhi. Dường như mọi câu, đoạn, hình ảnh đều tác động mạnh mẽ đến tư tưởng tình cảm thẩm mỹ của người đọc. Tác phẩm miêu tả cuộc phiêu lưu của một chú Dế Mèn qua thế giới loài vật và loài người. Những vấn đề nóng hổi như là cái thiện và cái ác, chiến tranh và hòa bình, lí tưởng và lẽ sống được thể hiện một cách nhẹ nhàng, tinh tế mà sâu sắc. Mèn đã trải qua những cuộc phiêu lưu vào thế giới các loài vật, vượt qua cơ man nào là rủi ro và biến cố, nhưng từng bước Mèn vươn lên tự điều chỉnh, tự nhận thức để trở thành con người giàu lí tưởng và ham hiểu biết với bản lĩnh kiên cường của một trai tráng đầu đội trời chân đập ta sẽ được lạc vào thế giới loài vật gần gũi, thân thương với toàn những con vật gắn chặt với đời sống thôn quê dân dã như bác Xiến Tóc, Võ sĩ bọ ngựa, Châu Chấu Voi, Ếch Cốm, Chuồn Chuồn…Tài năng của Tô Hoài thể hiện ở khả năng nắm bắt và mô tả đời sống tâm lí của lứa tuổi thiếu nhi và cả thanh niên. Ông đã “vẽ” nên một thế giới với muôn vàng những tình cảm mới lạ, những ham thích thiết thực và đầy phiêu lưu, những rung động tinh tế trước vẻ đẹp cuộc đời và thiên Cũ Hà NộiXem giá bánChuyện Cũ Hà Nội là một tập ký sự lịch sử về Hà Nội đặc sắc của nhà văn Tô tác phẩm, sự hiểu biết của Tô Hoài về Hà Nội thời Pháp thuộc rất phong phú, đặc biệt, thêm sự quan sát tinh tế, văn chương hóm hỉnh, các mẩu chuyện trong tác phẩm như một bức ki hoạ về một con người, một hoàn cảnh… khiến người đọc rung động vì những tình cảm chân thành, nhân ChiềuXem giá bánChiều chiều là câu chuyện kể ôn lại kỷ niệm của một con người đã đi dọc chiều dài lịch sử. Tô Hoài đưa chúng ta về một làng quê Bắc bộ với những câu chuyện từ “cải cách ruộng đất” rồi “sửa sai”, từ “thời bao cấp”, “làm hợp tác xã” đến “đổi mới sang kinh tế thị trường”… Cả một thời kỳ lịch sử đầy biến động hiện lên chân thực với bao số phận, bao cảm xúc buồn vui lẫn những điều oái ăm, ngang trái….Đọc Chiều chiều, ta thấy Tô Hoài như chính lão Ngải kia – ngày ngày vẫn ngồi bên bụi tre lép, bên ấm nước chè vò, mắt nhìn xa xăm, nhớ chuyện cũ, người xưa mặc thế thái nhân tình đổi thay…Xem giá bánNhững Ngõ Phố của Tô Hoài vẽ nên bức tranh sinh động, nhiều màu sắc về con người và những ngõ phố Hà Nội. Ở ngõ phố ấy có cô gái nhảy quyết tâm làm lại cuộc đời bằng việc gánh cát thuê, có người vợ đang phải chống chọi lại với những sợ hãi tủi nhục vì chồng mình là lính ngụy, có cuộc sống đơn sơ của đôi vợ chồng sống bằng nghề nhặt rác… Những con người ấy, trong ngõ phố ấy, đã tạo nên ngõ phố của những nhọc nhằn nhưng tràn ngập niềm vui, đầy ắp tình người và mang đậm chất Hà NămXem giá bánMười Năm đưa người đọc hòa mình vào không khí sục sôi của vùng quê ấy những ngày vùng lên xóa tan xiềng xích. Đó là Mười năm toàn dân chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, tiến tới Cách mạng Tháng TâyXem giá bánTô Hoài đã dành cho cuốn tiểu thuyết những nét vẽ chân thật và sinh động nhất, với hình ảnh những người con đất Phiềng Sa tình nghĩa đã sống qua hết những vất vả, đau thương, đấu tranh và dựng xây. Khai thác nhiều tư liệu lịch sử, chính trị, quân sự, tác phẩm đã tạo nên những bức tranh đối lập xưa và nay trong cuộc sống, số phận con người Phiềng Sa. Ở đó, hình ảnh con người chưa bao giờ được tác giả tạo nên bằng bút pháp lí tưởng hóa, mà họ luôn chân thật và gần gũi, mang đầy đủ mặt tốt và mặt xấu của một con người bình thường trong đời sống. Chính vì thế, họ đã sống rất lâu và vững bền trong trái tim rất nhiều độc giả NợXem giá bánKhách Nợ là nét vẽ thực về những con người, những cảnh đời khốn cùng ở làng quê nghèo ngoại thành Hà Nội trước Cách mạng Tháng Tám. Với cách kể chuyện bình dị, nhẹ nhàng, không màu mè, hoa mỹ, từng câu chuyện, từng số phận cứ từ từ xuất hiện, họ sống, chết, đói khổ, đau thương… chân thật đến ngỡ ngàng nhưng cũng xót xa đến ngỡ ngàng. Trong tập truyện không thể không kể đến những trang viết độc đáo, đầy hấp dẫn về loài vật như Đôi ri đá, Chú gà trống ri, Mụ ngan… Những câu chuyện tưởng chừng vô thưởng vô phạt, nhưng góp phần không nhỏ phơi bày những hiện trạng xã hội thời bấy Mìn Bố MìnXem giá bánGiản dị nhưng sâu sắc, Mẹ Mìn Bố Mìn của Tô Hoài khắc họa chân thực cuộc sống và con người Hà Nội của một thời kì loạn lạc. Trong bối cảnh ấy có những số phận trái ngang, đau thương đã phải vươn lên để sinh tồn bằng mọi cách… Dù nhiều cay đắng nhưng ở họ vẫn toát lên sự chân chất, mộc mạc và cả hy vọng vào một ngày mai đẹp DạiXem giá bánCỏ dại là hồi ký đầu tay của Tô Hoài, được viết khi nhà văn mới ngoài hai mươi tuổi 1944. Thời thơ ấu thấm đẫm nỗi buồn của cây đại thụ làng văn học Việt được tái hiện rõ nét trong Cỏ dại, thông qua nhân vật chính là Cu Ký Ức Không Chịu Ngủ YênXem giá bánHà Nội những năm 1945, 1946 là những năm tháng mà nhiều người muốn quên đi mà không được.“Tôi ngỡ ngàng khi tưởng tượng lại cảnh nhà nó chết thảm mà đã có lần nó kể loáng thoáng. Hai vợ chồng, bốn đứa con, bỏ cái làng đã nuốt tiệt cả củ chuối, nõn cai rồi văn ăn nốt cỏ – và nghe đồn, có xóm làm thịt ăn cả thịt trẻ con. Cái nhà ấy ra đi khỏi nơi chôn rau cắt rốn, không biết đi đâu, nhưng cứ đi, phải đi. Rồi bố chết trước. Những đứa trẻ bíu ríu quanh mẹ, mỗi hôm thưa dần. Một buổi trưa, hai chị nó không dậy nữa. Một đêm, thằng em lên ba bỗng khóc ngặt lên, rồi lặng im. Không biết thế bao lâu, chỉ còn có một mình nó lủi thủi với mẹ. Một sớm kia, nó mở mắt giữa con đường cát đá, không thấy mẹ đâu. Mẹ nó bỏ nó, hay mẹ nó một nình ngồi chết chỗ nào không cho nó biết. Những người sắp chết đói không muốn nhìn ai và những người không đành trông thấy con chết trên tay thường bỏ chúng bò lổm ngổm ngoài đường cái”Giữ Gìn 36 Phố PhườngXem giá bán“Có trách nhiệm với di tích lịch sử mọi mặt ở các nơi đô hội qua các đời là một phong tục đẹp của một dân tộc có văn hóa và truyền thế giới, hầu như bất cứ thủ đô hoặc thành phố lớn nào nhiều tuổi cũng đều được bảo vệ, trân trọng. Cách Tân Đê-li Đê-li mới thủ đô Ấn Độ vài ki-lô-mét là Đê-li cũ, thành cổ Đê-li ngày xưa. Tbi-li-xi, thủ đô nước Gruzia, ở kề bên vẫn nguyên thành cổ Tbi-li-xi phố phường và nhà thờ. Bên trong nhà ở các thành phố chính đã được hiện đại hóa cho thích nghi đời sống hôm nay, nhưng bề ngoài vẫn tầng nhà, màu tường và mặt đường đá tảng từ thời Pie đại đế. Thành phố Vacsava, thủ đô Ba Lan bị phát xít Đức hoàn toàn hủy diệt. Khi xây dựng lại Vacsava, các khu cổ được hồi sinh như trước kia. Kể từ màu gạch đến cái trụ đá trước sân nhà thờ để chống bệnh dịch tả – theo mê tín cũ, cũng được làm lại giống hàng nghìn năm, di tích lịch sử ở Hà Nội tập trung nhất ở hai khu Khu thành cũ mà ta quen gọi là “trong thành”, kinh đô từ thời Lý và triều đại về sau; và vùng dân cư ở bọc ngoài thành, từ phố Nhà Hỏa đến ngõ Phất Lộc, từ Hàng Khoai sang Cầu Gỗ, tuy không có mốc giới hạn bao giờ, nhưng có một cái tên chung là khu 36 phố phố phường vẫn đứng yên thế, nhưng cũng lại luôn chuyển động theo thời gian và lịch sử mỗi thời kỳ. Nó là một bảo tàng ngoài trời, bảo tàng ở giữa sinh hoạt thành phố, không tách khỏi đời sống – một lưu niệm sâu sắc ý nghĩa giáo dục truyền thống…”Người Con Gái Xóm CungXem giá bánTuyển tập truyện ngắn Người con gái xóm Cung viết về cuộc sống của người Việt trong và ngoài văn tái hiện sống động sự chuyển động của đời sống xã hội, con người từ hồi ức của ông. Không cầu kỳ trong lối viết, Tô Hoài mang đến cảm giác thân thuộc bằng sự thành thực và trải nghiệm của bản Để QuênXem giá bánChuyện Để Quên là tuyển tập những truyện ngắn viết sau năm 1945. Cũng là khung cảnh làng quê nghèo ấy, cũng là miền Tây Bắc ấy, nhưng với một tâm thức hoàn toàn khác, lòng người có cách mạng dẫn lối dường như bừng tỉnh sau ngàn năm say giấc, tươi sáng hơn, rạng ngời hơn. Những câu chuyện gắn liền với một thời kỳ tranh đấu hào hùng của dân tộc, những câu chuyện của hi sinh, mất mát, của chiến tranh ác liệt… của những năm tháng không thể nào Gương MặtXem giá bánNằm trong hệ thống hồi ký văn học của Tô Hoài, Những gương mặt được coi là tác phẩm mở đầu cho thành công về đề tài chân dung văn học của ông. Với Những gương mặt, Tô Hoài đã dành những nét vẽ chân thật và sinh động nhất để phác họa chân dung một thế hệ cầm bút, từ Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng,… đến Trúc Đường, Như Phong, Nguyễn Bính,… Họ trong trang viết của Tô Hoài không bao giờ màu mè, khoa trương mà luôn chân thật như bước thẳng từ cuộc đời đi vào trang sách. Giọng văn hóm hỉnh, tự nhiên đã khiến những gương mặt văn nhân với độc giả tưởng xa vời cùng ánh hào quang lấp lánh bỗng trở nên bình dị, gần gũi hơn. Và hơn hết thảy, đằng sau những gương mặt ấy là chân dung của một Tô Hoài giỏi quan sát, giỏi góp nhặt những cái hay, dở từ cuộc đời, nhân tình thế thái và đưa chúng vào sáng Áo Xường Xám Màu Hoa ĐàoXem giá bánChiếc Áo Xường Xám Màu Hoa Đào là một trong số ít những tập truyện viết về đời sống cơ cực, lay lắt, mù mịt, bị đàn áp nặng nề của các dân tộc miền núi Tây Bắc trước 1945. Tập truyện là quá trình vùng lên thoát khỏi xiềng xích đến với chân trời mới của những số phận bé mọn khao khát tự do. Với lối kể chuyện tự nhiên, giọng văn khi dửng dưng, khi đanh thép, lúc bùi ngùi, lúc lại đầy kịch tính, con người vùng cao với bao đau thương, bất hạnh đã được khắc họa rõ nét với những A Phủ, Hùng Vương, Mỵ, bà Ảng… Đặc biệt, đây là lần đầu tiên nỗi đau thương, cuộc sống bất công của người phụ nữ miền núi Tây Bắc được đề cập đến với cái nhìn đầy cảm thông và chia Bụi Chân AiXem giá bánMở đầu bằng mối giao tình giữa Tô Hoài và Nguyễn Tuân. Kết thúc bằng cái chết của Nguyễn Tuân. Giữa hai nhà văn đó là những kiếp nhân sinh chập chờn như những bóng ma trơi. Giữa hai nhà văn đó là không khí ngột ngạt của văn nghệ, kháng chiến, cách mạng và chính trị. Giữa hai nhà văn đó, cho tới khi có một người nằm xuống, đã một nửa thế kỷ trôi qua… Hoàng Khởi PhongTô Hoài đã khắc họa thành công các hình tượng Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Nguyễn Bính, Xuân Diệu… và giúp chúng ta hiểu rõ hơn về một thời đại văn học. Đặc biệt Tô Hoài không tô vẽ cầu kỳ, không thiêng liêng hóa hình tượng Nguyễn Tuân nhưng chân dung Nguyễn Tuân không vì thế mà mất đi vẻ khả ái, đẹp đẽ và ấn tượng. Chỉ điểm xuyết về con người Nguyễn Tuân trong giai đoạn tiền chiến, rồi đi ngược lại mãi về một thời rất xa, cứ thế cuộc đời dấn thân của Nguyễn Tuân như Tô Hoài biết từ sau 1945 tới nay hiện lên sinh động với tất cả những gì bình dị và thân thương nhất…Sổ Tay Viết VănXem giá bánLà một đứa con tinh thần do chính Tô Hoài chắt chiu, gom góp từ những kinh nghiệm viết lách của mình, Sổ tay viết văn được xem như cuốn sách gối đầu giường dành cho những ai yêu thích chữ nghĩa. Với ông, viết là thành quả lao động vô cùng tận và người viết cần chăm chút, tẩn mẩn từng li từng tí. Như chính lời con trai của ông, nhà báo Nguyễn Phương Vũ, chia sẻ “Đã từ lâu, từ khi cầm bút, bố tôi là người cẩn thận và luôn có trách nhiệm với câu chữ nên mỗi bản in dù là in lại nhưng ông luôn đọc, cắt gọt, chỉnh sửa, “uốn nắn”, tỉ mẩn như người dệt vải. Khi ông trao lại cho tôi để xử lý nhập liệu, với một bản thảo chi chít màu mực, chữ, từ, câu mà ông thêm bớt đan xen ngang dọc. Cha tôi là vậy, sự cẩn trọng, kỹ lưỡng trong nghề viết như mối nợ tình với ông.”Ký Ức Phiên LãngXem giá bánĐây là một trong hai tập bút ký đặc biệt của nhà văn Tô Hoài. Đó là những trang viết thấm đẫm tình hữu nghị sâu sắc với những quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới mà tác giả đã có dịp đặt chân đến. Nếu như Ký ức Đông Dương là câu chuyện ấm áp về những người bạn láng giềng thân thiết Lào và Campuchia thì Ký ức phiên lãng là những hồi ức xinh đẹp, sâu lắng đầy cảm xúc về những con người, những vùng đất ở những châu lục khác nhau, tưởng chừng như rất xa xôi nhưng lại quá đỗi gần gũi. Tình anh em sâu đậm, thắm thiết, bền chặt của những dân tộc bị áp bức cùng đứng lên chiến đấu đập tan gông xiềng nô

tiểu thuyết miền tây của tô hoài